Trên hồ Dầu Tiếng, nghề đánh cá nước ngọt nuôi sống nhiều hộ dân ở các bờ hồ, trong đó có các xóm ven hồ phía Dầu Tiếng. Ngư dân ở đây chủ yếu dùng ghe nhỏ gắn máy, giăng lưới vào chiều tối và thăm lưới lúc rạng sáng, bắt các loài cá nước ngọt quen thuộc, bán cho thương lái ngay ở bến hoặc mang ra chợ.
Nghề cá hồ là nghề nhỏ, phụ thuộc mùa nước, thời tiết và nguồn cá. Bài này tả một ngày đi lưới, các ngư cụ thường dùng, các loài cá hay gặp, mùa cá trong năm, cùng những quy định về ngư cụ cấm và bảo vệ nguồn lợi mà ai đánh bắt trên hồ cũng phải biết. Chuyện câu cá giải trí của khách được bàn ở chuyên mục điểm đến ven hồ; món ngon từ cá hồ ở chuyên mục ẩm thực.
Ai làm nghề cá trên hồ
Người đánh cá trên hồ Dầu Tiếng phía Dầu Tiếng phần đông là các hộ sống ở xóm ven hồ, ven sông. Có hộ coi đây là nghề chính, ngày nào cũng ra hồ; có hộ làm xen với cạo mủ cao su, làm rẫy, đi lưới lúc rảnh hoặc theo mùa cá. Nhiều gia đình truyền nghề từ cha sang con, từ những ngày đầu hồ mới tích nước.
Nghề không cần vốn lớn: một chiếc ghe nhỏ, máy nổ, vài tay lưới, ít đồ nghề. Nhưng thu nhập bấp bênh, phụ thuộc vào cá nhiều hay ít, giá bán lên hay xuống, thời tiết thuận hay giông gió. Người trẻ trong các gia đình ngư dân nhiều người chọn đi làm công ty, chỉ về hồ phụ cha mẹ ngày nghỉ.
Trên hồ, ngư dân các bờ đều có mặt; ranh giới hành chính trên mặt nước không dễ nhìn thấy. Người địa phương có những quy ước ngầm về chỗ giăng lưới, tránh giăng chồng lên lưới nhà khác, tránh luồng ghe đi lại. Người mới vào nghề thường phải theo người cũ một thời gian để hiểu những quy ước ấy.
Bên cạnh đánh bắt tự nhiên, ở một số đoạn ven hồ có người nuôi cá trong lồng, bè hoặc ao đào sát hồ. Hình thức này cần vốn lớn hơn, phải theo quy định về nuôi trồng trên hồ chứa và chịu rủi ro khi nước hồ thay đổi đột ngột hay chất lượng nước xấu đi. Người muốn làm nên tìm hiểu kỹ quy định và hỏi kinh nghiệm của các hộ đã nuôi trước.
Ngư cụ thường dùng trên hồ
Các ngư cụ phổ biến trên hồ Dầu Tiếng cũng là những ngư cụ quen thuộc của nghề cá nước ngọt Nam Bộ:
- Lưới giăng (lưới bén): tấm lưới dài, có phao trên, chì dưới, giăng đứng trong nước; cá bơi qua mắc vào mắt lưới. Đây là ngư cụ chính của nhiều hộ, kích thước mắt lưới quyết định cỡ cá bắt được.
- Chài: lưới hình nón, quăng tay từ ghe hay từ bờ, dùng ở chỗ nước cạn, ven bờ.
- Câu giăng: một sợi dây dài treo nhiều lưỡi câu có mồi, thả qua đêm, thăm vào sáng sớm; hay bắt cá dữ.
- Lờ, lọp, trúm: bẫy đan bằng tre hoặc lưới, đặt ven bờ, cá chui vào không ra được; quy cách và nơi đặt phải theo quy định.
- Vó: tấm lưới vuông căng trên khung, hạ xuống nước rồi nhấc lên; thường dùng ở ven bờ, bến ghe.
Những ngư cụ có tính huỷ diệt như kích điện (xung điện), chất nổ, hoá chất, lưới có mắt quá nhỏ, các loại bẫy dày đặc bắt cả cá con đều bị cấm. Phần quy định nói kỹ ở dưới.
Một ngày đi lưới
Chiều muộn, khi nắng đã dịu, người đi lưới chất lưới lên ghe, nổ máy ra những chỗ đã quen. Họ thả lưới theo hướng gió, hướng nước, đánh dấu bằng phao hay cây sào để sáng ra tìm lại. Thả xong thì về, hoặc có người ngủ lại trên ghe, trên chòi ven hồ để canh lưới.
Rạng sáng, khi mặt hồ còn sương, ghe lại ra thăm lưới. Người lái giữ ghe, người kéo lưới gỡ từng con cá bỏ vào khoang, gỡ rác, gỡ nhánh cây mắc vào lưới. Đây là lúc vất vả nhất: tay ướt lạnh, lưng mỏi, mắt căng ra trong ánh sáng nhập nhoạng. Lưới rách thì gom lại, về nhà vá.
Mặt trời lên thì ghe vào bến. Ở bến đã có thương lái chờ, hoặc người nhà mang cá ra chợ. Giá cá do thương lái và người bán thoả thuận theo ngày, theo loài, theo cỡ; ngư dân lâu năm thường bán cho mối quen để được trả sòng phẳng và lấy tiền ngay. Cá được phân loại theo con, theo cỡ, theo loài; cá tươi rói, còn quẫy là cá ngon. Phần cá nhỏ, cá tạp, gia đình giữ lại ăn hoặc phơi khô. Buổi trưa, người đi lưới ngủ bù, chiều lại vá lưới, chuẩn bị chuyến sau.
Những loài cá hay gặp trên hồ
Cá rô phi. Loài phổ biến ở nhiều hồ chứa phía Nam, sinh sản nhanh, là nguồn cá chính của nhiều ngư dân. Thịt chắc, dễ chế biến.
Cá mè, cá chép, cá trắm. Các loài cá thường được thả giống ở hồ chứa, lớn nhanh trong mặt nước rộng; cá lớn có thể nặng vài ký.
Cá lóc, cá trê, cá rô đồng. Cá bản địa quen thuộc của vùng nước ngọt Nam Bộ, hay gặp ở ven bờ có cỏ, rễ cây, mùa nước lên.
Cá thát lát và một số cá dữ. Sống ở chỗ nước sâu, có cây chìm; thường bắt bằng câu giăng hoặc lưới.
Tôm càng và các loài nhỏ. Tôm, tép và cá nhỏ là nguồn thu phụ, cũng là thức ăn quan trọng của các loài cá lớn trong hồ.
Một lưu ý về tên cá. Tên gọi cá ở mỗi vùng mỗi khác; cùng một loài, người bờ này gọi một kiểu, người bờ kia gọi kiểu khác. Danh sách trên chỉ gồm các loài thường được nhắc; thành phần loài thực tế của hồ cần khảo sát chuyên môn mới nói chắc được.
Mùa cá theo con nước
Ngư dân hồ Dầu Tiếng nói chuyện mùa cá theo mùa nước hơn là theo tháng. Khi nước bắt đầu lên đầu mùa mưa, nhiều loài cá di chuyển vào vùng nước mới ngập ven bờ để kiếm ăn và sinh sản. Đây là thời điểm cá con nhiều, cũng là lúc cần hạn chế đánh bắt để giữ nguồn lợi; một số địa phương có quy định về mùa, vùng cấm hoặc hạn chế khai thác.
Giữa và cuối mùa mưa, mặt hồ rộng, cá phân tán, đánh bắt khó hơn, lại thêm giông gió. Sang mùa khô, nước rút, cá dồn về vùng nước sâu hơn, mật độ cao hơn, đánh bắt thuận lợi; đây thường là mùa ngư dân thu nhập khá. Cuối mùa khô, nước thấp, nước ấm lên, cá có khi yếu, ngư dân phải đi xa hơn tìm chỗ.
Mỗi năm một khác: năm hồ đầy, cá có nhiều chỗ sinh sản; năm hồ thiếu nước, nguồn cá có thể giảm năm sau. Những người lâu năm trong nghề thường so năm nay với các năm trước bằng trí nhớ, và kinh nghiệm ấy quý hơn mọi con số thống kê. Họ cũng nhớ những năm cá ít bất thường, thường trùng với những năm khai thác huỷ diệt rộ lên, và đó là lý do họ ủng hộ việc cấm kích điện.
Luật đánh bắt: những gì bị cấm và vì sao
Đánh bắt cá trên hồ chứa phải tuân thủ pháp luật về thuỷ sản và quy định riêng của địa phương, đơn vị quản lý hồ. Nhóm hành vi bị cấm rõ ràng nhất là dùng xung điện (kích điện), chất nổ, chất độc, hoá chất để bắt cá. Các cách này giết sạch cá lớn cá nhỏ, phá huỷ nguồn lợi, và cực kỳ nguy hiểm cho chính người dùng: nhiều vụ tử vong do kích điện đã xảy ra ở các vùng sông hồ Nam Bộ.
Ngư cụ có mắt lưới quá nhỏ, các loại bẫy dày đặc như lồng bát quái (lú) dài hàng chục mét bắt cả cá con, tôm con cũng nằm trong diện bị cấm hoặc hạn chế ở nhiều nơi. Danh mục ngư cụ cấm, kích thước mắt lưới tối thiểu, vùng và mùa cấm khai thác có thể thay đổi theo văn bản mới; người làm nghề nên hỏi chính quyền xã và cán bộ thuỷ sản để cập nhật.
Khu vực gần công trình đầu mối (đập, tràn, cống) là vùng cấm đánh bắt, neo đậu ghe vì lý do an toàn công trình và an toàn người. Ngư dân nào cũng biết điều này, nhưng người câu nghiệp dư mới đến hay vi phạm vì không để ý biển báo.
Thả cá giống và giữ nguồn lợi cho hồ
Để bù lại lượng cá bị đánh bắt và giữ đa dạng loài, các cơ quan quản lý và địa phương thỉnh thoảng tổ chức thả cá giống tái tạo nguồn lợi xuống hồ, thường là các loài cá nước ngọt bản địa hoặc loài phổ biến như mè, chép, trắm. Ngư dân được vận động không đánh bắt cá giống mới thả, không đánh bắt trong vùng, mùa sinh sản.
Bảo vệ nguồn lợi cá trên hồ là bài toán chung của mọi bờ hồ: một bên tận diệt thì bên kia cũng hết cá. Những ngư dân lâu năm thường là người lên tiếng mạnh nhất chống kích điện, vì họ thấy rõ cá ít đi sau những đợt bắt huỷ diệt. Khi phát hiện người dùng kích điện, chất nổ trên hồ, nên báo chính quyền hoặc lực lượng chức năng, không tự xử lý để tránh xung đột.
An toàn cho người làm nghề trên hồ
Giông lốc. Mặt hồ rộng, giông lốc mùa mưa có thể nổi lên trong vài phút, sóng lớn lật ghe nhỏ. Thấy mây đen kéo tới từ xa thì vào bờ ngay, không cố thăm hết lưới.
Sét. Trên mặt hồ trống trải, người đứng trên ghe là điểm cao nhất, rất dễ bị sét đánh. Trời có sấm sét thì vào bờ, tránh trú dưới cây đơn độc.
Áo phao. Nhiều ngư dân lâu năm chủ quan không mặc áo phao. Nhưng ghe lật ban đêm, nước lạnh, quần áo nặng, kể cả người bơi giỏi cũng khó trụ.
Đi một mình. Nếu phải đi một mình, báo người nhà giờ đi, giờ về, khu vực giăng lưới; mang điện thoại trong túi chống nước.
Ghe và máy. Kiểm tra ghe trước khi đi: thân ghe có rò không, máy có nổ ổn không, có mang theo mái chèo dự phòng, gáo tát nước. Máy chết giữa hồ lúc trời sắp giông là tình huống mà người đi lưới nào cũng sợ.
Câu hỏi thường gặp
Ngư dân hồ Dầu Tiếng thường đánh cá giờ nào?
Phổ biến là thả lưới vào chiều tối và thăm lưới lúc rạng sáng, khi mặt hồ êm và cá hoạt động nhiều. Một số ngư cụ như chài, vó dùng vào ban ngày ở ven bờ. Giờ giấc thay đổi theo mùa nước và thời tiết.
Muốn mua cá hồ Dầu Tiếng tươi thì nên đi đâu?
Cách tốt nhất là ra các bến ghe ven hồ vào sáng sớm, lúc ngư dân vừa thăm lưới về, hoặc mua ở chợ trung tâm xã vào buổi sáng. Hỏi người địa phương bến nào gần và đông ghe. Cá còn sống, mắt trong, mang đỏ là cá tươi.
Kích điện bắt cá trên hồ bị xử lý thế nào?
Đây là hành vi bị cấm theo pháp luật về thuỷ sản, có thể bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn tùy mức độ và hậu quả. Ngoài chuyện pháp luật, kích điện rất nguy hiểm cho chính người dùng. Thấy người kích điện, nên báo chính quyền, không tự xử lý.
Người ngoài địa phương có được đánh cá trên hồ không?
Việc khai thác thuỷ sản trên hồ chứa phải theo quy định của pháp luật và của địa phương, có thể cần đăng ký ghe, ngư cụ. Câu cá giải trí ở vùng được phép thường không cần thủ tục phức tạp nhưng phải tránh vùng cấm. Nên hỏi chính quyền xã trước khi hành nghề.
Vì sao cá trên hồ có năm nhiều năm ít?
Do mực nước hồ, mưa, chỗ sinh sản ven bờ, lượng đánh bắt và cả những đợt khai thác huỷ diệt. Năm hồ đầy, cá có nhiều chỗ đẻ; năm hạn, nước thấp, nguồn cá có thể giảm. Thả cá giống và cấm ngư cụ huỷ diệt giúp nguồn cá ổn định hơn.